Thứ Ba, 21 tháng 12, 2010

ÊXƠTÊ VÀ MẠCĐÔCHÊ



NHÂN VẬT KINH THÁNH
ÊXƠTÊ VÀ MẠCĐÔCHÊ

Êxơtê 2
Phần giới thiệu:
Cuộc sống không luôn luôn thể hiện ra như chúng ta mong muốn nó phải có đâu. Có phải như thế không? Có hai sự kiện mà hết thảy chúng ta đều phải học biết:
Đó là: (1) cuộc sống không công bằng; (2) có khi con người sẽ trở nên tàn nhẫn.
Tôi dám chắc Hoàng hậu Vả-Thi đã nghĩ rằng cuộc sống không công bằng. Khi chúng ta nhìn vào những gì bà đã làm (hoặc không chịu làm) và nhìn thấy mọi điều đã xảy đến cho bà, chúng ta sẽ có khuynh hướng cùng nhất trí với bà. Ở đây, chúng ta thấy bà đã từ chối không tỏ ra phết lịch sự của mình cho một số đàn ông đang say sưa nhìn thấy. Đây là một việc vinh dự để làm, nhưng nó buộc bà phải trả giá đắt. Bà đã trả một giá cho quyết định đó.
Chúng ta cũng cần phải hiểu rằng đôi khi chúng ta chọn làm theo việc đúng đắn hay việc vinh dự, nó cũng có thể làm cho chúng ta phải trả giá trong đời nầy nữa! Chúng ta thấy câu chuyện ấy đã lặp đi lặp lại trong Kinh Thánh.
Êli đã làm những gì là đúng đắn trên Núi Cạtmên với các tiên tri Baanh rồi kết thúc trong cuộc chạy trốn Giêsabên liền ngay sau đó, nhưng Đức Chúa Trời cứ thúc đẩy ông phải tiếp tục công việc.
Giôsép đã làm những gì là đúng đắn rồi kết thúc ở trong ngục tù, nhưng ông không thôi làm phải.
Êtiên đã làm những gì là phải lẽ trong việc rao giảng Tin Lành, nhưng lại kết thúc trong việc bị ném đá cho đến chết.
Cũng có trường hợp của Cứu Chúa chúng ta nữa – là Đức Chúa Jêsus Christ!
Chúng ta có thể thuật lại cho nhiều người khác biết, nhưng chúng ta đã có mặt ở đây suốt đêm.
Chúng ta có thể chọn làm theo những việc đúng đắn hay việc vinh dự và nó có thể khiến cho chúng ta phải buồn đau trong cuộc sống nầy. Nói như thế nghĩa là chúng ta thôi không làm phải nữa, có phải không? Tuyệt đối không!
Như Mục sư Bob Jones, Sr. thường nói: “Hãy làm phải, vì đó là việc đúng đắn phải làm”.
Chúng ta thấy rõ Vả-Thi cũng học biết phần kia trong hai phần của cuộc sống: đôi khi người ta sống rất tàn nhẫn. Ở đây, bà đã ra sức gìn giữ đức hạnh và danh tiếng của mình và bà đã bị truất phế.
Thay vì là câu chuyện “từ cái giẻ rách đến chỗ giàu có”, thuộc về bà là câu chuyện từ chỗ “giàu có xuống tận cùng của những miếng giẻ rách”.
Thêm vào với hai sự thực nầy, thật là khôn ngoan khi nhớ đến tư tưởng nầy:
Không một điều gì sẽ đánh bại được các chương trình của Đức Chúa Trời. Châm ngôn 21.1: “Lòng của vua ở trong tay Đức Giê-hô-va khác nào dòng nước chảy; Ngài làm nghiêng lệch nó bề nào tùy ý Ngài muốn”.
Tất cả các biến cố diễn ra đều nằm trong chương trình mà Đức Chúa Trời đang tể trị.
Đức Chúa Trời vẫn hành động hôm nay, Ngài đang thực thi chính sự việc ấy trong đời sống của chúng ta, và trong khi chúng ta không luôn luôn nhìn thấy hay công nhận Ngài, tuy nhiên Ngài đang hiện hữu ở đó, sử dụng những hành động và quyết định của chúng ta để đạt cho kỳ được ý muốn của Ngài, thậm chí khi những hành động ấy được lập ra mà chẳng màng đến Ngài.
Đâu là ý chỉ của Đức Chúa Trời? Rất đơn giãn, hành động ấy đem lại cho Ngài sự vinh hiển. Chương trình đời đời của Đức Chúa Trời luôn luôn là khiến chính mình Ngài trở thành trung tâm chú ý, cả ở trên trời và trên đất. Đức Chúa Trời sẽ tiếp lấy sự vinh hiển.
Trong những thời kỳ quá khứ, Ngài đã hành động qua tuyển dân Israel để có sự vinh hiển ấy, và ngày nay Ngài hành động qua các Hội Thánh Tân Ước của Ngài, sử dụng dân sự Ngài giống như bạn và tôi để làm đẹp lòng Ngài và làm vinh hiển cho danh của Ngài.
Giờ đây, hãy hiểu rằng khi mục đích chính của Đức Chúa Trời không hề thay đổi, có nhiều cách khác nhau mà mục đích ấy sẽ đạt được.
Trong chương nầy, chúng ta thấy một số bài học nổi bật về sự bảo hộ và sự thành tựu của ý chỉ Đức Chúa Trời.
I. CON NGƯỜI KHÔNG LÀM MỌI VIỆC THEO ĐƯỜNG LỐI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI! (các câu 1-4)
Êsai 55.8-9: "Đức Giê-hô-va phán: Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu".
Chúng ta thấy chương trình tốt nhứt con người đề ra là thay thế hoàng hậu.
Tôi dám chắc họ tin rằng đây là chương trình của họ, nhưng Đức Chúa Trời đã có chương trình riêng của Ngài.
Nhưng, như chúng ta đã nói trước, Châm ngôn 21.1: “Lòng của vua ở trong tay Đức Giê-hô-va khác nào dòng nước chảy; Ngài làm nghiêng lệch nó bề nào tùy ý Ngài muốn”.
II. ĐỨC CHÚA TRỜI CỨ TIẾN HÀNH CHƯƠNG TRÌNH CỦA NGÀI (các câu 5-7)
A. Mạcđôchê là một người Do thái làm việc trong cung điện Vua (câu 5)
B. Mạcđôchê và Êxơtê đã có mặt ở đó bởi chương trình của Chúa (câu 6)
C. Mạcđôchê là một người rất đáng mến (câu 7)
Từ “bảo dưỡng” có nghĩa là nuôi nấng. Ông đã chịu trách nhiệm về một đứa trẻ không phải là con ruột của mình. Ông là cậu của Êxơtê, nhưng đã nuôi dạy nàng giống như thể nàng là con gái ruột của ông vậy.
III. ĐỨC CHÚA TRỜI THỰC HIỆN Ý CHỈ CỦA NGÀI QUA CÁC CHƯƠNG TRÌNH CỦA CON NGƯỜI (các câu 8-20)
Chúa sử dụng chương trình của con người để làm tròn ý định của Ngài thậm chí chẳng có ai trong số người nầy biết tương lai đang có gì cho người Do thái.
A. Chúng ta thấy sự lộng lẫy của Êxơtê (các câu 8-9)
B. Chúng ta thấy bí quyết của Êxơtê (các câu 10-11; 20)
C. Chúng ta thấy cách chưng diện của Êxơtê (câu 12)
D. Chúng ta thấy tính đơn sơ của Êxơtê (các câu 13-15)
Nàng có thể xin bất cứ điều chi nàng mong muốn, nhưng nàng chẳng đòi chi khác hơn những gì đã được định cho mình.
E. Chúng ta thấy Êxơtê trong địa vị nổi bật (các câu 15b-19)
IV. ĐỨC CHÚA TRỜI ĐẶT CÁC TÔI TỚ NGÀI VÀO ĐÚNG CHỖ ĐÚNG THÌ (các câu 21-23)
A. Âm mưu (câu 21)
B. Sự ngăn ngừa (câu 22)
C. Tra hạch (câu 23)
Phần kết luận:
Mạcđôchê và Êxơtê cả hai đều là trọng tâm của câu chuyện mà chúng ta thấy trong sách nầy.
Cả hai đều có những đức tính chắc chắn khiến cho họ được Đức Chúa Trời đại dụng.
Cả hai đều được đặt để bằng một phương thức để họ đạt được những việc lớn, và
Cả hai đều được phước nhiều hơn là họ mơ tưởng nữa.
Đâu là các đức tính đó?
Tình cảm –
Tình cảm của Mạcđôchê dành cho Êxơtê khiến ông phải đem nàng về nhà rồi nuôi dạy nàng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
Tình cảm của Êxơtê dành cho Mạcđôchê khiến nàng luôn vâng phục đối với Mạcđôchê.
Khôn ngoan –
Sự khôn ngoan của Mạcđôchê đã tự minh chứng trong lời khuyên của ông dành cho Êxơtê đừng tỏ ra lai lịch của nàng.
Sự khôn ngoan của Êxơtê được chứng minh trong việc nàng nghe theo Mạcđôchê.
Tính đơn sơ –
Tính đơn sơ của Mạcđôchê được thấy có trong phương thức ông nuôi dạy Êxơtê.
Tính đơn sơ của Êxơtê được tỏ ra trong những sự lựa chọn của nàng trước mặt nhà vua.
Can đảm –
Êxơtê đã chứng tỏ lòng can đảm khi nàng vượt qua tiến trình trở thành hoàng hậu trong khi giữ lấy lai lịch và phẩm giá của mình.
Và trong những câu kết thúc, cả hai người đều chứng tỏ lòng can đảm qua việc tỏ ra âm mưu của hai người kia muốn ám sát nhà vua.
Chúng ta sẽ thấy về sau họ còn can đảm hơn khi có cần trong vai trò của họ.
Nhưng lẽ thật chính, ấy là CHẲNG CÓ GÌ sẽ đánh bại được các chương trình và mục đích của Đức Chúa Trời!

Thứ Sáu, 17 tháng 12, 2010

TIÊN TRI ÊLISÊ



NHÂN VẬT KINH THÁNH
TIÊN TRI ÊLISÊ
I Các Vua 19:16-21; II Các Vua 2-8

Phần giới thiệu:
Một vài sự thay thế trong Kinh Thánh rất hiệu quả trong trường hợp của Êlisê, ông là sự thay thế của Êli làm tiên tri của Đức Chúa Trời cho Israel.
Nhưng Êlisê có tấm gương lớn để noi theo nơi tiên tri Êli. Ông ở lại với Êli cho tới giây phút sau cùng trong cuộc đời trên đất của thầy mình. Ông bằng lòng bước theo và học hỏi để kiếm được năng quyền đặng làm công việc mà Đức Chúa Trời đã kêu gọi ông phải lo làm.
Ông có một chức vụ kéo dài trong hơn 50 năm. Ông đã có một cái chạm trên bốn quốc gia: Israel, Giuđa, Môáp, và Syri dù ông phục vụ chính yếu cho Vương quốc phía Bắc và đã phụ giúp chỉ cho dân sự nhìn thấy Đức Chúa Trời.
Ông là một con người ngay thẳng, ông không ra sức làm giàu cho bản thân mình bằng phí tổn của người khác.
I. LAI LỊCH CỦA ÊLISÊ.
A. Tên Êlisê có nghĩa là: “Đức Chúa Trời là Cứu Chúa”.
B. Ông được kêu gọi khi lao động trong đồng ruộng (I Các Vua 19.16-21). Ông xuất thân từ chi phái Ysaca và là một nông dân.
1. Đức Chúa Trời dẫn Êli đến gặp ông.
Chiếc áo choàng, là món đồ quan trọng nhất trong loại y phục mà một người có thể có làm của riêng. Nó được sử dụng như sự bảo hộ chống lại thời tiết, như giường ngủ, như một chỗ để ngồi, và như hành lý.
Nó có thể được trao làm tin cho món nợ hoặc bị xé ra thành nhiều mảnh để thể hiện sự buồn rầu.
Êli đã đặt chiếc áo choàng của mình trên vai của Êlisê, tỏ ra rằng ông sẽ là người kế tục của Êli.
Sau đó, khi sự chuyển giao quyền hành hoàn tất, Êli để chiếc áo tơi mình lại cho Êlisê (II Các Vua 2.11-14)
2. Ông đã phục vụ Êli cho tới khi Đức Chúa Trời đem Êli lên trời trong một cơn lốc.
Bằng cách giết đôi bò và hủy diệt nông cụ của mình, Êlisê thưc hiện sự phó thác long trọng bước theo Êli. Sau khi làm vậy, ông không thể trở lại với cuộc sống của mình như một nông dân giàu có nữa.
C. Ông tìm kiếm và được chuẩn nhận ban cho phần bằng hai Thần của Êli (II Các Vua 2.9-14)
Đây là lời cầu xin rất dạn dĩ, nhưng Đức Chúa Trời ưng ban cho như thế vì các động lực của Êlisê đều trong sạch.
Mục tiêu chính không phải là tốt hơn hay nhiều quyền phép hơn Êli, song để hoàn tất nhiều hơn cho Đức Chúa Trời.
Nếu các động lực của chúng ta là trong sạch, chúng ta không phải e dè khi cầu xin những việc lớn từ Đức Chúa Trời.
Khi chúng ta cầu xin Đức Chúa Trời ban cho quyền phép hay khả năng lớn lao, chúng ta cần phải xem xét mọi ước muốn của mình rồi gạt bỏ đi phần ích kỷ mà chúng ta tìm thấy.
II. CÁ TÁNH CỦA ÊLISÊ NHƯ ĐÃ ĐƯỢC THẤY TRONG CÔNG TÁC VÀ CHỨC VỤ CỦA ÔNG.
A. Ông vốn có một sự kính trọng đối với các ân tứ của Đức Chúa Trời mà ông đã nhìn thấy trong đời sống của Êli (II Các Vua 2.9-14).
B. Ông đã tỏ ra lòng thương xót khi chữa lành nước (II Các Vua 2.19-22).
C. Ông đã tỏ ra lòng can đảm khi đối diện với Vua của Israel (II Các Vua 3.9-14).
D. Ông đã tỏ ra sự đồng cảm đối với những ai đang có cần (II Các Vua 4.1-7).
E. Ông đã được Đức Chúa Trời ban cho một sự tin cậy rất đặc biệt (II Các Vua 6.8-12).
F. Ông có khả năng đổ nước mắt (II Các Vua 8.7-12).
III. CHỨC VỤ CỦA ÊLISÊ ĐƯỢC TÓM GỌN LẠI.
A. Ông có một chức vụ rất cơ bản, ấy là thương xót và được gắn liền với ân điển.
B. Dù ông là gã nhà quê trước khi được kêu gọi vào trong chức vụ, ông đã trở thành một người thành thị và nói về Đức Chúa Trời trong triều đình của sáu vị Vua.
C. Ông là người làm phép lạ và nhiều gấp hai lần Êli.
IV. HAI NHÂN VẬT ÊLI VÀ ÊLISÊ ĐƯỢC SO SÁNH.
Cả hai, Êli và Êlisê đã tập trung mọi nổ lực của họ vào các nhu cần đặc biệt của con người sống quanh họ.
A1 Êli là tiên tri của lửa.
Êli là tiên tri nổi tiếng và gây ấn tượng nhất trong các tiên tri của Israel. Ông chiếm lấy chỗ đứng chống lại những sai lầm nghiêm trọng trong thời của ông.
Êli sôi nổi ấy đã đương diện và vạch trần tình trạng thờ lạy hình tượng, phụ giúp tạo ra bầu không khí cho dân chúng có thể thờ phượng Đức Chúa Trời trong tự do và công khai.
Tuy nhiên, chúng ta học biết từ đời sống ông là chúng ta chưa hề gần gũi với thất bại trong các giây phút đắc thắng quan trọng nhất của chúng ta.
A2. Êlisê vốn có lòng thương xót.
Khi Êlisê bước vào bối cảnh, ông đã chứng tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời, tuy nhiên rất quan tâm đến những ai đến với ông xin giúp đỡ. Ông tỏ ra lòng thương xót đối với các nhu cần của những kẻ sống quanh ông.
B1. Êli để nhiều thì giờ trong đồng vắng.
Đức Giêhôva đã giấu ông trong khe Kêrít sau khi đối mặt với Aháp. Ông trốn sang BêeSêba, rồi vào trong đồng vắng (cách một ngày đường), và sau cùng đến Núi Hôrếp (núi Sinai, cách 40 ngày đường).
B2. Êlisê để nhiều thì giờ trong các triều đình của các Vua. Ông là người của mọi người.
C1. Êli để tóc dài (II Các Vua 1.8)
C2. Êlisê để đầu trọc (II Các Vua 2.23-24)
D1. Chức vụ của Êli chủ yếu là nói tiên tri.
D2. Chức vụ của Êlisê chủ yếu là làm phép lạ.
Êlisê đã thấy nhiều hơn người khác vì ông công nhận rằng với Đức Chúa Trời có nhiều việc hơn trong cuộc sống. Ông vốn biết rõ rằng mọi sự chúng ta đang sống đây và mọi thứ chúng ta đang có đều đến từ Đức Chúa Trời.
Phần nhiều các phép lạ của Êlisê đã được ghi lại nhiều hơn bất cứ ai khác trong Cựu Ước.
Các phép lạ đã xảy ra trong chức vụ của Êlisê khiến người ta có được cái chạm với cá nhân Đức Chúa Trời đầy quyền phép kia.
E1. Êli quở trách các Vua.
Êli được phái đến để đối đầu, chớ chẳng phải yên ủi, và ông rao giảng Lời của Đức Chúa Trời cho một vì vua thường chối bỏ sứ điệp của ông chỉ vì ông đang cưu mang sứ điệp đó.
E2. Êlisê là thân hữu của họ.
F1. Êli đem đến sự báo thù.
Bởi Lời của Đức Giêhôva ông đã mang đến và kết thúc cơn hạn hán trong ba năm. Ông đã đại diện cho Đức Chúa Trời trong một lần đối mặt với các tiên tri và thầy tế lễ Baanh trên Núi Cạtmên.
F2. Êlisê đem lại ơn thương xót.
Êlisê để ít thì giờ xung đột với điều ác và nhiều thì giờ trong sự quan phòng thương xót đến dân sự. Kinh Thánh ghi lại 18 lần gặp gỡ giữa Êlisê và dân sự đang có cần.
G1. Êli là con người cô độc.
Êli thi hành chức vụ của ông vì một mình Đức Chúa Trời và đã kinh nghiệm sự cách ly đối với nhiều người khác, là những kẻ sống trung tín với Đức Chúa Trời.
Tuy nhiên, chúng ta học được từ đời sống ông là chúng ta không hề cô độc như chúng ta có thể cảm thấy; Đức Chúa Trời luôn luôn có mặt ở đó phán dạy chúng ta với một giọng nói êm dịu nhỏ nhẹ.
G2. Êlisê là con người của xã hội.
Chúng ta học được từ Êlisê là trong ánh mắt của Đức Chúa Trời, một lượng sự cao trọng có được là bằng lòng phục vụ cho người nghèo cũng như cho kẻ có quyền lực.

Thứ Năm, 16 tháng 12, 2010

TIÊN TRI ÊLI



NHÂN VẬT KINH THÁNH
TIÊN TRI ÊLI
I Các Vua 17, 18, 19; II Các Vua 1, 2
Phần giới thiệu
.
Hai vị tiên tri kế tiếp mà chúng ta sẽ xử lý với là hai nhân vật đã đóng vai trò quan trọng trong lịch sử của Israel – Êli và Êlisê. Khi chúng ta xem xét hai vị tiên tri nầy, chúng ta sẽ thấy họ đối ngược nhau ở nhiều cách thức, tuy nhiên cả hai người đều là hạng người quan trọng và mỗi người trong số họ đều đã được Chúa đại dụng.
Êli là vị tiên tri cao niên hơn và Đức Chúa Trời đã sử dụng ông và chức vụ của ông để kêu gọi Êlisê phục vụ. Chúng ta sẽ thấy thể nào Êlisê đã đi theo Êli và đã phục vụ ông trong khoảng 6 năm trước khi Đức Chúa Trời gọi Êli về quê hương.
Trong chương trình nghiên cứu của chúng ta, chúng ta sẽ xem xét hai nhân vật theo cách riêng và rồi đưa ra một sự so sánh cả hai cùng chức vụ của họ.
Khi chúng ta suy nghĩ đến nhu cần phải phấn hưng và phải cầu nguyện như thế nào, tôi không tin chúng ta sẽ tìm được trường hợp nào tốt hơn trong Kinh Thánh về mối tương quan giữa hai người. Chúng ta sẽ xem xét đến phần cuối của sứ điệp nầy.
I. LAI LỊCH CỦA ÊLI.
A. Tên Êli có nghĩa là “Đức Chúa Trời là Giêhôva”.
B. Ông được gọi là “người Thisêbe”, ý nói ông cư ngụ ở Thisêbe, một thành trong xứ Galaát.
C. Chúng ta chẳng biết gì về ông mãi cho tới khi ông xuất hiện trên bối cảnh, như một tiên tri, để quở trách Aháp (I Các Vua 17.1-2).
D. Ông được biết vì cớ diện mạo thô kệch của ông.
II Các Vua 1.7-8: “Vua bèn hỏi họ rằng: Người đi lên đón các ngươi và nói những lời ấy ra sao? Chúng thưa: Người đó mặc áo lông, và thắt lưng bằng dây da. Vua nói rằng: Ấy là Ê-li, người Thi-sê-be”.
II. CÁ TÁNH CỦA NHÂN VẬT ÊLI ĐƯỢC THẤY TRONG VIỆC LÀM VÀ CHỨC VỤ CỦA ÔNG.
A. Êli là một con người với mọi sức mạnh và sự yếu đuối vốn có trong bản chất của con người (Giacơ 5.17-18).
B. Êli sẵn sàng tin cậy và vâng theo Đức Chúa Trời khi ông đương diện với Aháp cùng con trai ông là Axachia (I Các Vua 17.1-2; 21.17-29; II Các Vua 1.1-12).
C. Êli là một người vốn chú trọng nhiều vào sự cầu nguyện (I Các Vua 17.20-22; 18.36-38; Giacơ 5.17).
D. Êli không sợ hãi khi đương diện với các cấp lãnh đạo dân sự hay tôn giáo nào phạm sai lầm (I Các Vua 18.1-40).
1. Ông làm cho Aháp nhìn biết rằng ông là người chịu trách nhiệm về sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên xứ (I Các Vua 18.17-18).
2. Ông đã kêu gọi các tiên tri của thần Baanh vào một cuộc thử thách và rồi tiêu diệt họ sau khi Đức Chúa Trời tự minh chứng mình (I Các Vua 18.19-40).
E. Êli bằng lòng tỏ ra sự kính trọng đối với bậc cầm quyền nếu điều đó là khả thi (I Các Vua 18.41-46).
F. Êli là một người hay chết phải chịu đựng cách đối xử sai trái và những ý tưởng sai lầm.
1. Ông đã ngã lòng khi bị Giêsabên đe dọa (I Các Vua 19.1-4).
2. Ông rút ra một số kết luận sai (I Các Vua 19.14, 18).
3. Ông đã nhìn thấy và đã làm ra nhiều phép lạ, tuy nhiên ông cảm thấy thất vọng nơi Đức Chúa Trời (I Các Vua 19.11-12).
G. Êli rời thế gian nầy theo một phương thức thật vinh hiển (II Các Vua 2.11).
III. ĐỜI SỐNG VÀ CHỨC VỤ CỦA ÊLI ĐƯỢC TÓM TẮT.
A. Êli có một chức vụ về sự phán xét và được kết hợp chặt chẽ với Luật pháp.
B. Êli đã đứng một mình trong sự chống đối công khai với tình trạng bội đạo và khiến cho Israel công nhận một mình Đức Giêhôva chính là Đức Chúa Trời.
C. Êli đã đóng vai trò như lương tâm của xứ sở ông.
D. Êli đứng như một trong những người con lỗi lạc nhất của Israel.
1. Nhiều người nghĩ rằng Chúa Jêsus là Êli khi Chúa Jêsus bắt đầu chức vụ công khai của Ngài (Giăng 1.21; Mathiơ 16.14).
2. Sự trở lại của Êli được những người Do thái chính thống trông mong ở từng kỳ Lễ Vượt Qua (Malachi 4.5-6).
E. Êli được tôn cao theo cách thiêng liêng qua sự xuất hiện với Môise và Đấng Christ trên Núi Hóa Hình (Mathiơ 17.1-3).
F. Malachi 4.5-6 nói trước rằng sự đến của Êli sẽ loan báo trước sự đến của Đấng Mêsi.
1. Thiên sứ hiện ra với Xachari nói rằng Giăng Báptít sẽ làm ứng nghiệm lời tiên tri nầy (Luca 1.13-17).
2. Chúa Jêsus khẳng định điều nầy ở Mathiơ 17.10-13.
3. Nhiều học giả tin có một sự ứng nghiệm sâu xa hơn trong tương lai về điều nầy được thấy ở Khải huyền 11.3-12. Mặc dù không nói tới tên, nhiều người tin rằng Êli sẽ là một trong hai chứng nhân đó.
IV. ÊLI PHẢI LÀM GÌ VỚI SỰ CẦU NGUYỆN XIN PHỤC HƯNG? (I Các Vua 18)
Tôi muốn mượn một số việc ở một phân đoạn Kinh Thánh từ một sứ điệp mà tôi đã giảng về phân đoạn nầy vào tháng Giêng năm 2002.
Ở đây, chúng ta thấy dân sự của Đức Chúa Trời đang ở trong một tình trạng khủng hoảng. Bất cứ đâu tội lỗi cai trị thì có một tình trạng khủng hoảng. (Trong trường hợp tội lỗi cai trị trong một quốc gia, một cộng đồng, một Hội Thánh, một gia đình, hay một cá nhân).
Châm ngôn 14.34: “Sự công bình làm cho nước cao trọng; Song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc”.
Trong phân đoạn nầy, thời điểm phước hạnh đã qua lâu rồi, kế đó là tình trạng gian ác trong hơn 100 năm. Thực vậy, chẳng có một vua nào trong Israel làm điều ngay thẳng trước mặt Đức Giêhôva trong một thời gian rất dài.
Tình trạng thuộc linh của xứ sở đã được tỏ ra qua cấp lãnh đạo của nó – các câu 17-18.
Họ đã quên các điều răn của Chúa, và đã chạy theo thần Baanh (Baanh là thần chính được dân Canaan thờ lạy).
Dân Israel bị cám dỗ tiếp tục quên sự thờ phượng Đức Chúa Trời chơn thật của Thiên đàng, thay vào đó họ đã thờ lạy thần Baanh.
Sự thờ phượng thần Baanh thường được nối kết với tình trạng phi luân, là một trong những lý do dân Israel bị cám dỗ hướng tới sự thờ lạy thần Baanh. (Ma quỉ vẫn sử dụng tư dục của xác thịt để kéo người ta xa khỏi Đức Chúa Trời).
Tình trạng thuộc linh của xứ sở được tỏ ra qua dân sự của nó – câu 21.
Vấn đề, ấy là dân sự của Đức Chúa Trời không muốn phục theo trọn vẹn cùng Đức Chúa Trời. (Họ giống như nhiều người ngày nay muốn nhảy rào).
Họ không thực sự chống đối Đức Chúa Trời phải được thờ lạy, nhưng họ muốn bám vào Đức Chúa Trời và thần Baanh cùng một lúc.
Điều đó chắc chắn là chẳng được đâu! Nếu Giêhôva là Đức Chúa Trời, hãy theo Ngài!
Tình trạng thuộc linh của xứ sở được tỏ ra qua tình trạng của bàn thờ – câu 30
Mối liên kết giữa sự Phục Hưng và sự cầu nguyện có thể được thấy nơi những gì Êli đã làm với bàn thờ.
A. MỤC ĐÍCH CỦA BÀN THỜ.
Bàn thờ được xem là nơi thánh, người ta bước vào giao tiếp với Đức Chúa Trời tại đó.
1. Bàn thờ là nơi cảm tạ và ngợi khen.
2. Bàn thờ là nơi xưng tội.
3. Bàn thờ là nơi dành cho của lễ.
4. Bàn thờ là nơi của sự chết.
5. Bàn thờ là nơi tương giao.
B. SỰ Ô UẾ CỦA BÀN THỜ.
Điều gì gây ra tình trạng của bàn thờ?
1. Bàn thờ đã bị lạm dụng.
2. Bàn thờ đã bị ngược đãi.
3. Bàn thờ đã bị bỏ phế.
C. SỰ SỬA SOẠN BÀN THỜ.
1. Êli đã công nhận tình trạng của bàn thờ.
2. Êli đã sửa lại bàn thờ.
3. Êli sắp đặt mọi thứ đặt trên bàn thờ (câu 33)
4. Êli dời hết mọi thứ khả thi của con người (các câu 33-35)
5. Êli tôn kính Đức Chúa Trời (các câu 36-37).
6. Êli nương cậy vào Lời của Đức Chúa Trời (câu 36)
7. Êli yêu cầu hành động nơi phần của Đức Chúa Trời (câu 37)
Phần kết luận:
Phục hưng xảy đến khi bàn thờ được sửa lại và mọi thứ được sắp đặt lại cho có thứ tự.
Bàn thờ của bạn ngày nay đang theo khuôn mẫu nào?
Làm sao chúng ta thấy được lửa của Đức Chúa Trời giáng xuống hôm nay?
Đúng là chúng ta sẽ không thấy được lửa ấy trong một số việc.
1. Lửa không thấy có nơi số lượng (nghĩa là, thích ứng với đại đa số – 850 so với 1) (các câu 19, 22)
2. Lửa không thấy được trong chỗ ồn ào (nghĩa là, chúng ta có la lớn đến độ nào) (các câu 26, 28).
3. Lửa không thấy được trong chỗ hoạt động (nghĩa là, chúng ta có bận rộn đến chừng nào đi nữa) (các câu 26, 28).
Chúng ta sẽ thấy lửa trong những việc đúng đắn.
1. Chính trong sự hầu việc Đức Chúa Trời chơn thật!
2. Chính trong sự sửa soạn thích đáng và sự sử dụng bàn thờ.

ĐARIÚT NGƯỜI MÊĐI



NHÂN VẬT KINH THÁNH
ĐARIÚT NGƯỜI MÊĐI

ĐANIÊN 6
Phần giới thiệu.
Đây là nhân vật trong ba người có tên là Đariút trong Cựu Ước.
Đariút nầy là con trai của Asuêru, là người mà chúng ta đã gặp khi chúng ta đến với sách Êxơtê, vào tuần tới.
Giống như chúng ta đã thấy, Bênxátsa không phải là vua của đế quốc Canhđê, cũng vậy chúng ta thấy đây là sự thực nơi Đariút.
Siru người Batư là nhà vua cai trị trên Đế quốc Mêđi Batư trong suốt thời gian nầy. Người ta tin rằng Đaniên 6.28 đang phác họa Đaniên như chưa thành công trong hai triều đại quyền lực độc lập, mà thành công trong suốt sự cai trị của hai nhà vua đồng thời, vua nầy phụ thuộc vào vua kia.
Chúng ta tin và có bằng chứng cho thấy rằng Đariút đã được Siru chỉ định cai trị trên xứ Babylôn, đây là một phần nhỏ khi đem sánh với Đế quốc Mêđi Batư rộng lớn.
Bạn cũng sẽ thấy rằng Kinh Thánh chép Đariút đã chiếm “được nước” (Đaniên 5.31). Từ ngữ “được” ở đây ra từ chữ Canhđê có nghĩa là “giành được”. Điều nầy cho thấy rằng ông đã cai trị do chỉ định, thay vì bằng sự chinh phục và vì thế bị phụ thuộc vào Siru, là vua đã chỉ định ông ta.
Cũng hãy để ý ở Đaniên 9.1, ở đây Kinh Thánh chép Đariút đã được “lập làm vua trị nước người Canh-đê”.
I. SỰ NỔI BẬT CỦA ĐANIÊN (6.1-3)
Một trong những trách nhiệm đầu tiên của Đariút là tái tổ chức lại xứ Babylôn mới vừa chinh phục được.
Ông đã chỉ định 120 “quan trấn thủ” để cai trị xứ Babylôn. Các quan trấn thủ nầy chịu trách nhiệm với ba “quan thượng thơ” trợ giúp cho trách nhiệm quản trị của nhà vua.
Đaniên là viên quan thượng thơ ngoại lệ, một phần vì kinh nghiệm rộng rãi của ông dưới thời Vua Nêbucátnếtsa trong khoảng 39 năm, nhưng phần lớn vì bàn tay của Đức Chúa Trời giáng trên đời sống ông.
Vì thế Đariút đã sắp đặt để khiến Đaniên chịu trách nhiệm quản trị cả vương quốc. Tất nhiên điều nầy đã tạo ra xích mích giữa Đaniên và hai quan thượng thơ kia và 120 quan trấn thủ.
II. ÂM MƯU CỦA NHỮNG NHÀ LÃNH ĐẠO (6.4-9)
Hai quan thượng thơ kia và 120 quan trấn thủ đã tìm một vài cơ sở để tố giác Đaniên trong công tác quản trị của ông. Có lẽ họ ganh tỵ với địa vị của ông rồi bực tức ông vì ông là người Do thái.
Nhưng họ thấy rằng Đaniên đã không sai sót. Thực vậy, ông rất “trung tín” và họ không thể tìm được một lầm lỗi nào nơi ông.
Họ quyết định phải tìm cho kỳ được một vài cơ sở cho sự tố cáo ông trong cách sống đạo của ông, những gì mà họ biết rõ ràng.
Vì vậy, họ mới nghĩ ra một cách. Họ đề nghị với Vua Đariút rằng ông ta nên chống lại sự cầu nguyện ở vương quốc trong thời gian 30 ngày.
Dù 122 nhà lãnh đạo nầy đã hội ý cùng nhau nhắc cho các cấp lãnh đạo nhớ hay nói dối về sự gì đó mà chúng ta không biết. Vấn đề chúng ta biết rõ là họ đã nói dối về việc đã bàn bạc sự ấy với Đaniên.
Mọi lời cầu nguyện đều phải được trình lên nhà vua với sự công nhận quyền lực của ông ta trong lãnh vực tôn giáo.
Án phạt cho sự loạn nghịch chống lại uy quyền tôn giáo của nhà vua là phải bị tử hình bằng cách bị ném vào hang sư tử.
Nếu Đariút không lấy làm hãnh diện và chẳng có tấm lòng đầy dẫy với sự ngạo mạn nuôi dưỡng sự tự tôn mình, thì chẳng có một lý do nào cho ông ta phải ký vào một chiếu chỉ như thế cả.
Theo thông lệ của người Mêđi Batư, chiếu chỉ từng được ký rồi không thể bãi bỏ được nữa.
III. LỜI CẦU NGUYỆN CỦA ĐANIÊN (6.10-11).
Chiếu chỉ đã được ký theo luật pháp bởi Đariút đã được thông báo rất rõ ràng.
Nhưng Đaniên, dù biết rõ chiếu chỉ, vẫn cứ theo lối sống thường nhựt của mình (giống như ông đã sống trước kia) về việc đi lên phòng cao: ba lần một ngày để cầu nguyện với Đức Chúa Trời.
Thi thiên 55.17: “Buổi chiều, buổi sáng, và ban trưa, tôi sẽ than thở rên siếc; Ngài ắt sẽ nghe tiếng tôi”.
Đaniên đã cầu nguyện hướng về thành Jerusalem. Cầu nguyện hướng về thành Jerusalem chính là cơ sở cho sự ông cầu nguyện.
Thi thiên 5.7: “Còn tôi, nhờ sự nhân từ dư dật của Chúa, tôi sẽ vào nhà Chúa, lấy lòng kính sợ Chúa mà thờ lạy trước đền thánh của Chúa”.
II Sử ký 6.21; 34-39
Lời cầu nguyện của Đaniên bao gồm một thời gian dâng lời cảm tạ trước mặt Đức Chúa Trời khi ông công nhận sự nhơn từ của Đức Chúa Trời đối cùng ông.
Lời cầu nguyện của ông cũng là lời cầu thay trước mặt Đức Chúa Trời, chắc chắn cầu xin sự hướng dẫn và trợ giúp (câu 11).
Chắc chắn, trách nhiệm trong chức vụ cao của ông đã đặt nặng trên Đaniên và ông đã tìm kiếm sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trong các quyết định mà ông đưa ra.
Đaniên đã hơn 80 tuổi vào lúc bấy giờ (539TC); ông được 16 tuổi khi bị bắt đi làm phu tù 66 năm trước đó (605TC). Cho nên vì cớ tuổi tác, ông cũng đã tìm kiếm Đức Chúa Trời vì cớ sức khỏe để gánh vác các bổn phận nặng nề nầy.
Chắc chắn Đaniên cũng sẽ cầu nguyện về sự bắt bớ hầu đến mà ông biết rõ sẽ xảy ra không bao lâu nữa trên đường lối của ông.
Đaniên không đưa ra một nổ lực nào hòng che giấu sự tin kính hay sự mình nương cậy nơi Đức Chúa Trời, dầu sự ấy trong lúc nầy có nghĩa là bất tuân chiếu chỉ của nhà vua (đối chiếu Công Vụ các Sứ đồ 5.29). Đaniên đã và sẽ không nhìn về vua Đariút để tìm sự hướng dẫn và sức lực mà ông biết rõ mọi điều ấy chỉ có một mình Đức Chúa Trời mới có thể tiếp trợ cho.
Hiển nhiên là các đối thủ của ông biết rõ ông cầu nguyện ở đâu và lúc nào, vì vậy họ đã tập trung lại (sát nghĩa, nhóm lại với sự ồn ào) rồi thấy ông và, như đã mong đợi, thấy ông đang cầu nguyện.
IV. PHẦN KHỞI TỐ ĐANIÊN (6.12-18).
Không lâu sau đó, phần khởi tố nghịch lại Đaniên do các đối thủ ông được đưa ra trước mặt Đariút, là nhà vua đã phát ra chiếu chỉ.
Đariút thấy mình phải làm điều gì với chính luật lệ của mình; ông nói: phải y theo chiếu chỉ.
Nêbucátnếtsa người Babylôn thì cao hơn luật pháp, còn Đariút người Mêđi thì y theo luật pháp.
Sau khi nghe lời tố giác của họ nghịch lại Đaniên, là nhân vật họ đã thu nhỏ lại là một trong những kẻ phu tù đến từ xứ Giuđa, Đariút lấy làm lo lắng lắm.
Mặc dù Đariút biết rõ ông phải y theo luật pháp mà ông đã lập ra, ông đã tìm vài cách thức để cứu Đaniên ra khỏi án phạt mà luật pháp đã quy định.
Sau khi thấy khó mà cứu được Đaniên, ông đã ban ra lịnh lạc: Đaniên phải bị ném vào hang sư tử.
Khi Đaniên đã bị ném vào hang sư tử, dường như chết là chắc chắn lắm rồi, nhà vua nói: “Nguyện Đức Chúa Trời ngươi mà ngươi hằng hầu việc có thể giải cứu ngươi khỏi sư tử!”
Trong trường hợp Đariút có biết về sự giải cứu của Đức Chúa Trời đối với ba bạn của Đaniên khỏi lò lửa hực trong thời Nêbucátnếtsa hay không thì chẳng ai biết được. Tuy nhiên, câu nói của Đariút đã thốt ra một ước muốn rằng Đaniên sẽ được buông tha.
Chắc chắn Đariút muốn Đaniên được buông tha, vì rõ ràng ông đánh giá cao mọi khả năng quản trị của Đaniên. Có thể ông đã có ấn tượng với thái độ tin cậy của Đaniên nơi Đức Chúa Trời của Đaniên.
Để cho Đaniên không thể thoát ra khỏi hang sư tử, một hòn đá đã được đặt trên miệng hang, rồi được đóng bằng ấn của triều đình.
Dấu ấn, một biểu tượng được làm bằng đất sét với một hình ảnh trên chiếc nhẫn, sẽ cho người khác biết rằng hòn đá sẽ không được dời đi với nổ lực giải thoát cho Đaniên.
Nhà vua đã ngần ngại giam Đaniên ở trong hang. Nhà vua rất bối rối vì ông đã bị các quan thượng thơ và những quan trấn thủ gài bẫy phải chiếu theo luật pháp của chính ông. Vì thế, ông đã thức trọn đêm không ngủ hay ăn uống chi hết.
V. SỰ BẢO TỒN ĐANIÊN (6.19-23).
Rạng sáng, Đariút đã vội vã đến hang sư tử. Ông đã ở trong lo âu về khả năng và có thể lắm ông sẽ nhìn thấy Đaniên đã bị tiêu nuốt mất rồi. Tuy nhiên, ông hy vọng ngược lại với hy vọng Đaniên sẽ được giải cứu bởi Đức Chúa Trời mà Đaniên đã hầu việc.
Đaniên đã trả lời Đariút rằng Đức Chúa Trời thực ra đã gìn giữ ông không bị tổn hại vì cớ tình trạng vô tội của ông (câu 22) và vì ông đã tin cậy nơi Đức Chúa Trời (câu 23).
Thiên sứ của Đức Chúa Trời đã bị mồm của bầy sư tử. Tôi tin Thiên Sứ nầy, giống như Thiên Sứ trong lò lửa hực với ba bạn Hêbơrơ (3.25), là sự tỏ ra của Đấng Christ trước khi hóa thân thành nhục thể.
VI. LỜI CÔNG BỐ CỦA NHÀ VUA (6.24-28).
Đariút đã lấy làm khó chịu với những kẻ nào âm mưu nghịch lại Đaniên. Vì vậy, ông đã truyền rằng tất cả những kẻ nào tố giác Đaniên, cùng với gia đình của họ, phải bị ném vào chính cái hang sư tử mà Đaniên đã bị ném vào.
Đariút, nhân vật bởi chiếu chỉ của mình đã được tôn kính trong một tháng như một vị thần linh, giờ đây đã đưa ra lời loan báo rằng mọi thần dân của xứ sở ông – tất cả mọi dân, các nước, và mọi người theo từng thứ ngôn ngữ – phải kính sợ và tôn trọng Đức Chúa Trời của Đaniên.
Đây là một sự thay đổi hoàn toàn đáng kinh ngạc nơi phần của Đariút! Lý do cho sự thay đổi nầy, Đariút đã viết, ấy là Đức Chúa Trời của Đaniên là hằng sống (Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống; đối chiếu 6.20). Ngài là Đức Chúa Trời hằng sống!
(Các thần của người Mêđi và Batư đều là những tượng chết cũng như bao nhiêu tà thần khác!)
Đức Chúa Trời nầy là Đức Chúa Trời đời đời, Nước của Ngài không thể hủy diệt được, và Ngài can thiệp vào các vụ việc của con người và giải cứu người nào biết tin cậy nơi Ngài.
Ngài hành động bằng quyền phép lạ lùng (các dấu kỳ phép lạ; đối chiếu 4.2-3) để hoàn thành ý chỉ của Ngài, kể cả sự giải cứu Đaniên rất lạ lùng.
Một Đức Chúa Trời thể ấy thực sự phải được tôn kính và thờ lạy. Bất chấp sự chống đối của các quan trấn thủ và hai quan thượng thơ, Đaniên đã được tôn cao và tiếp tục sống.
Phần kết luận.
Đariút là một nhân vật để cho sự kiêu ngạo của mình đứng trên con đường phán xét đúng đắn.
Đariút là một nhân vật rất vội vã trong mọi quyết định của mình.
Đariút là một nhân vật đã học biết về Đức Chúa Trời từ một người vốn biết rõ Đức Chúa Trời theo cách riêng.
Đariút là một con người đã tôn cao Đức Chúa Trời khi ông đạt tới mức nhìn biết Đức Chúa Trời.

ĐANIÊN HAY BÊNXÁTSA



NHÂN VẬT KINH THÁNH
Đaniên hay Bênxátsa

Đaniên 1.21
PHẦN GIỚI THIỆU
:
Cách đây chừng hai mươi lăm thế kỷ, Đaniên là một chàng thanh niên biết kính sợ Đức Chúa Trời và hầu việc Đức Chúa Trời rất trung tín ở giữa thời điểm xấu xa nhất trong chính xứ sở của mình.
Giuđa là tuyển dân của Đức Chúa Trời và họ đã phục vụ Đức Chúa Trời sau mọi sự Đức Chúa Trời đã làm cho họ, nhưng như một tổng thể, cả xứ đã tái phạm xa cách đường lối của Đức Chúa Trời.
Những nan đề thật đã bắt đầu ở II Các Vua 21 với một vị vua có tên là Manase (hãy lật Kinh Thánh ra).
1. Ông đã sống như một người theo tà giáo (câu 2).
2. Ông đã phục hồi sự thờ lạy hình tượng và thờ lạy thần Baanh (câu 3).
3. Ông đã báng bổ nhà của Đức Chúa Trời (các câu 4-5).
4. Ông dính dáng vào ma thuật (câu 6).
5. Ông đã khiến cho dân sự của Đức Chúa Trời sống tệ hại hơn dân tà giáo (câu 9).
6. Ông đã làm đổ huyết vô tội (câu 16).
Đức Chúa Trời đã công bố sự phán xét trên xứ Giuđa ở các câu 11-15.
Sau 55 năm trị vì của Manase, Amôn lên ngôi trị vì (xem các câu 19-22).
Các tôi tớ thân cận của Amôn đã âm mưu nghịch lại ông rồi giết ông trong chính cung điện mình.
Khi ấy Giôsia đã cai trị và một cơn phấn hưng ngắn đã diễn ra trong một thời gian (II Các Vua 22.2):
1. Nhà của Đức Chúa Trời được tu bổ (các câu 5-6).
2. Sách Luật pháp được tìm thấy (câu 8).
3. Sách Luật pháp được đọc (câu 11).
4. Người ta cầu vấn Đức Giêhôva (câu 13).
5. Giôsia được ban cho lịnh ân xá (các câu 19-20).
6. Giôsia thanh tẩyNhà Đức Chúa Trời (các chương 23.25).
7. Tuy nhiên, lòng của dân sự chưa xây lại (Giêrêmi 25.3-11).
Dù vậy, chúng ta thấy ở II Các Vua 23.26 rằng Đức Giêhôva không xây khỏi cơn thạnh nộ của Ngài mà Manase đã chọc tức. Ngài đã trì hoãn cơn giận của Ngài vì cớ Giôsia, nhưng Ngài không xây khỏi cơn thạnh nộ của Ngài.
Sau Giôsia, mọi việc bắt đầu trở lại y như chúng hiện có trước khi Giôsia lên cai trị.
Giôacha đã trị vì và quay trở lại với điều ác (II Các Vua 23.31-32).
Sau ông, Giêhôgiakim đã cai trị và chẳng có gì thay đổi (II Các Vua 23.36-37).
Thế rồi chúng ta đến với II Các Vua 24.1-4 và chúng ta thấy những điều xảy đến ở Đaniên 1.1
1. Hãy chú ý, những gì đã xảy ra cho xứ Giuđa đã chiếu theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời.
2. Hãy chú ý những gì đã xảy ra cho xứ Giuđa đã xảy ra vì cớ tội lỗi của Manase.
Giờ đây, khi mọi điều nầy xảy đến, Đaniên đã phục sự Đức Giêhôva rồi.
Đaniên bị Vua Nêbucátnếtsa bắt đi làm phu tù. Bây giờ, hãy hiểu rằng Đaniên đã rơi vào chỗ thất vọng. Đaniên có thể đã chịu thua đối với điều ác đang diễn ra quanh ông. Đaniên có thể đã thối lui trong sự hầu việc Chúa. Nhưng không phải như thế.
Kinh Thánh chép rằng Đaniên cứ tiếp tục phục vụ thậm chí trong năm đầu tiên của Vua Siru.
Nêbucátnếtsa đã đến rồi đi (Babylôn).
Bếnxátsa đã đến rồi đi.
Đariút đã đến rồi đi (Mêđi và Ba tư).
Siru đã đến và Đaniên vẫn còn đó.
Đaniên đã tiếp tục làm gì? Ông tiếp tục làm những việc mà bạn và tôi phải tiếp tục bất chấp những hoàn cảnh của cuộc sống mà chúng ta có thể thấy mình ở trong đó.
I. ĐANIÊN CỨ TIẾP TỤC BƯỚC THEO MỤC ĐÍCH TIN KÍNH (Đaniên 1.8)
“Quyết định trong lòng” có ý nói “đặt, để” (nghĩa là, ông đặt để trong lòng mình không muốn tự làm ô uế mình).
Đaniên không sống đời sống mình theo kiểu định mệnh (nghĩa là, “Điều chi sẽ xảy ra sẽ xảy ra…”).
Đaniên đã sống đời sống mình có mục đích!
Thắc mắc cho chúng ta, có phải chúng ta thực sự tin rằng Đức Chúa Trời có một mục đích cho đời sống chúng ta hay không?
Đaniên đã và sẽ tìm kiếm mục đích ấy cho chính đời sống mình!
Chúng ta đem vào lòng mình điều gì vậy? Đaniên đã đặt ý chỉ của Đức Chúa Trời ở đó!
Thắc mắc khác nữa, có phải chúng ta tin rằng Đức Chúa Trời đang tể trị trong mọi sự không? Nếu chúng ta tin, thì chúng ta có thể sống đời sống mình với mục đích tin kính bất luận điều chi cuộc sống nầy có thể đem vào đường lối của chúng ta.
II. ĐANIÊN TIẾP TỤC TRONG SỰ THANH SẠCH TIN KÍNH (Đaniên 1.8).
Các nước theo tà giáo không những ăn loài vật không sạch, là thứ bị Luật pháp Do thái cấm đoán, mà còn ăn cả loài thú thanh sạch trước tiên bị hiến làm nạn nhân cho các tà thần của họ, và một phần rượu đã được đổ ra như thứ rượu lễ rãi trên bàn thờ.
Vì lẽ đó, Đaniên đã quyết tâm không làm ô uế bản thân mình theo những cách thức của họ; tuy nhiên, ông đã không bất lịch sự từ chối những gì đã được dự trù làm những khoản tiếp trợ thích đáng cho ông, song ôn tồn và nhún nhường xin các quan chức làm ơn cho ông trong lãnh vực nầy.
Tác giả Thi thiên đã nói ở Thi thiên 24.3-5: “Ai sẽ được lên núi Đức Giê-hô-va? Ai sẽ được đứng nổi trong nơi thánh của Ngài? Ấy là người có tay trong sạch và lòng thanh khiết, chẳng hướng linh hồn mình về sự hư không, cũng chẳng thề nguyện giả dối. Người ấy sẽ được phước từ nơi Đức Giê-hô-va, và sự công bình từ nơi Đức Chúa Trời về sự cứu rỗi người”.
Phaolô căn dặn chàng trai trẻ Timôthê ở II Timôthê 2.22: “Cũng hãy tránh khỏi tình dục trai trẻ, mà tìm những điều công bình, đức tin, yêu thương, hòa thuận với kẻ lấy lòng tinh sạch kêu cầu Chúa”.
Mathiơ 5.8: “Phước cho những kẻ có lòng trong sạch, vì sẽ thấy Đức Chúa Trời!”
III. ĐANIÊN CỨ TIẾP TỤC SỐNG TRONG SỰ TỂ TRỊ CỦA CHÚA (Đaniên 1.9)
Sự hiện diện của Đức Chúa Trời vẫn ở cùng Đaniên. Sự tể trị của Đức Chúa Trời rất hiển nhiên trong đời sống của Đaniên.
Còn nhớ câu chuyện nói tới Giôsép trong sách Sáng thế ký không? Khi các anh gian ác của ông bán ông đi làm nô lệ.
Sáng thế ký 39.2: “Giô-sép … được Đức Giê-hô-va phù hộ..”.
Sáng thế ký 39.3: “Chủ thấy Đức Giê-hô-va phù hộ chàng và xui cho mọi việc chi chàng lãnh làm nơi tay đều được thạnh vượng”.
Lúc ấy khi ông bị vợ của Phôtipha vu cáo, mọi việc dường như xoay chiều sang hướng xấu lúc ông bị bỏ tù. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời vẫn ở cùng ông.
Sáng thế ký 39.21: “Đức Giê-hô-va phù hộ Giô-sép và tỏ lòng nhân từ cùng chàng, làm cho được ơn trước mặt chủ ngục”.
Đức Chúa Trời vẫn ở cùng chúng ta thậm chí khi thế giới của chúng ta bị lật nhào.
IV. ĐANIÊN CỨ TIẾP TỤC SỐNG TRONG SỰ TIẾP TRỢ CỦA CHÚA.
Đức Chúa Trời đã ban cho Đaniên đúng những gì ông cần khi ông cần đến nó.
A. Khi Đaniên cần tiếp trợ về mặt thuộc thể, Đức Chúa Trời đã ban cho điều đó (Đaniên 1.8, 12, 17).
B. Khi Đaniên cần sự tiếp trợ về trí khôn, Đức Chúa Trời đã ban cho điều đó (Đaniên 2.16-19; 5).
C. Khi Đaniên cần sự tiếp trợ về mặt thuộc linh, Đức Chúa Trời đã ban cho điều đó (Đaniên 6.10).
V. ĐANIÊN CỨ TIẾP TỤC SỐNG TRONG SỰ LÀM CHỨNG CHO CHÚA (Đaniên 1.12, 17-20; 2.17-18).
Nhiều lần mọi hoàn cảnh của cuộc sống xảy đến như một lý do minh chứng cho đức tin của chúng ta.
Chúng ta sẽ tin cậy Đức Chúa Trời hay chúng ta sẽ lìa bỏ đức tin của mình?
Phần kết luận:
Đaniên cứ tiếp tục.
Để tiếp tục bạn phải có một sự khởi đầu.
Để tiếp tục bạn phải có mục đích của Đức Chúa Trời. Để tiếp tục bạn phải có sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Để tiếp tục bạn phải có sự tể trị của Đức Chúa Trời. Để tiếp tục bạn phải có sự tiếp trợ của Đức Chúa Trời. Để tiếp tục bạn phải có sự minh chứng của Đức Chúa Trời.
VI. ĐANIÊN CỨ TIẾP TỤC SỐNG TRONG CÁCH SỐNG TIN KÍNH (Đaniên 6.4-5, 10).
Rất là dễ xưng công bình việc sống theo một đời sống bất kính vì cớ môi trường xung quanh ông.
VII. ĐANIÊN CỨ TIẾP TỤC SỐNG TRONG SỰ CẦU NGUYỆN TIN KÍNH (Đaniên 6.10).
VIII. ĐANIÊN CỨ TIẾP TỤC SỐNG TRONG SỰ BẢO HỘ CỦA CHÚA (Đaniên 6.19-22).
IX. ĐANIÊN CỨ TIẾP TỤC SỐNG TRONG QUYỀN PHÉP CỦA CHÚA (Đaniên 6.27).
X. ĐANIÊN CỨ TIẾP TỤC SỐNG TRONG SỰ THỊNH VƯỢNG TIN KÍNH (Đaniên 6.28).
XI. ĐANIÊN CỨ TIẾP TỤC SỐNG TRONG VIỆC CÔNG BỐ TIN KÍNH HAY NÓI TIÊN TRI (Đaniên 6.28).

Thứ Ba, 14 tháng 12, 2010

ĐANIÊN, HANANIA, MISAÊN VÀ ASARIA



NHÂN VẬT KINH THÁNH
Đaniên, Hanania, Misaên, và Axaria
(Hay Bêntơxátsa, Sađơrắc, Mêsác, và Abếtnêgô)
Phần giới thiệu
:
Đây là những cái tên do người làm đầu hoạn quan tại xứ Babylôn đặt cho bốn vị vương tử xứ Giuđa, họ đang bị đày sang xứ Babylôn. Ba người sau chúng ta cũng biết đấy là con cái người Hy bá lai.
Đức Chúa Trời muốn chúng ta biết gì về bốn tôi tớ nầy của Đức Chúa Trời? Tuần nầy chúng tôi sẽ cung ứng phần giới thiệu nói về họ từ Đaniên 1 tối nay và tiếp đến chúng ta sẽ xem xét bản thân Đaniên và Sađơrắc, Mêsác, cùng với Abếtnêgô trong những bài học riêng biệt.
I. TÌNH TRẠNG CHẲNG ĐẶNG ĐỪNG (các câu 1-2)
Đức Giêhôva đã phó xứ Giuđa vào tay của Nêbucátnếtsa, Vua xứ Babylôn.
A. Đây là sự ứng nghiệm lời tiên tri của Êsai đã được ban ra cho Êxêchia ở Êsai 39.
Êxêchia đã làm sự dại dột và điều đó đã khiến cho xứ Giuđa phải trả giá.
B. Đây là sự ứng nghiệm lời tiên tri của Giêrêmi đã được ban ra cho xứ Giuđa ở Giêrêmi 25.1-11.
Trong 23 năm, Giêrêmi cùng nhiều người khác đã giảng đạo, song chẳng có ai chịu nghe.
II. TÌNH TRẠNG BỊ CẦM TÙ (các câu 3, 6-7)
Đaniên và mấy người bạn của mình đã được chọn để trở thành một phần trong sự ứng nghiệm lời tiên tri được thấy ở Êsai 39.7.
Việc đặt tên cho những kẻ phu tù hay hạng nô lệ ngoại bang là một dấu cho thấy sự sống họ bị đặt dưới sự thần phục.
Tên “Bêntơxátsa”, có nghĩa là: “bảo tồn Ngài thần Bel” hay “hoàng tử của Bel”, (là vị thần linh của xứ Babylôn), đã được đặt cho “Đaniên”, có nghĩa là “Đức Chúa Trời là quan án của tôi”.
Từ nầy được giải thích sáu lần trong mười hai chương khi tên của Đaniên đã được thay đổi. Việc nầy cho thấy rằng Đaniên vốn chẳng ưa thích cái tên mới của mình cho lắm. Thực vậy, Đaniên dùng tên riêng của mình 75 lần trong sách của ông.
Tên “Sađơrắc”, có nghĩa là “chiếu chỉ của Aku” (thần mặt trăng), đã được đặt cho “Hanania”, có nghĩa là “sự ban cho của Đức Giêhôva”.
Tên “Mêsác”, có nghĩa là “ai giống như Aku” (thần mặt trăng) đã được đặt cho “Misaên”, tên nầy có nghĩa là “ai giống như Đức Chúa Trời”.
Tên “Abếtnêgô”, có nghĩa là “tôi tớ của Nebo” (thần khoa học và văn chương xứ Babylôn), đã được đặt cho Axaria, có nghĩa là “người mà Đức Giêhôva đã cứu giúp cho”.
III. DIỆN MẠO (các câu 3-4; 17)
A. Nêbucátnếtsa có 8 đức tính cho những kẻ bị bắt làm phu tù:
1. Họ phải thuộc dòng vua (câu 3)
2. Họ phải còn trẻ (thiếu niên (câu 4)
Có thể lắm lúc bấy giờ họ chỉ là những gã thiếu niên.
3. Họ không có tật nguyền (câu 4)
4. Mặt mày họ phải xinh tốt (nghĩa là, đẹp trai; diện mạo trông tốt đẹp)
5. Họ phải biết mọi sự khôn ngoan (nghĩa là, thông minh) (câu 4)
6. Họ phải biết cách trí (nghĩa là, có học vấn cao) (câu 4)
7. Họ phải đủ sự thông thiểu khoa học (câu 4)
8. Họ được dạy cho học thức và tiếng của người Canhđê để có thể đứng chầu trong cung vua (câu 4)
Nói cách khác, đây là phần tinh túy nhất! Đây là người giỏi nhất trong xứ Giuđa!
B. Bốn bạn nầy đặc biệt được ưu đãi
IV. QUY ĐỊNH (các câu 4b-5)
Trong ba năm họ phải được chuẩn bị. Ba năm là chiều dài chương trình huấn luyện đặc biệt dành cho các triều thần.
Họ cần phải được rèn luyện trong học tập và tiếng nói xứ Canhđê.
Họ cần được dinh dưỡng từ rượu và thịt của nhà vua.
V. QUYẾT ĐỊNH (câu 8)
Đaniên đã để ý thấy có chi đó sai lầm với những khoản đã được cung cấp cho họ.
Đặc biệt chúng ta không được cho biết vấn đề đó là gì, nhưng chắc chắn họ không phù hợp với chế độ ăn uống đã được truyền dạy cho con cái Israel theo Luật pháp Môise.
Bất luận là nan đề nào, Đaniên đã chủ động ở trong lòng rằng ông sẽ không tự làm ô uế mình.
Đaniên đã có một sự tin quyết và ông quyết định không đi ngược lại với những sự tin quyết ấy.
VI. KHÉO LÉO TRONG GIAO TẾ (câu 9)
Tôi tin rằng sắc lệnh ấy là một thử nghiệm bởi Đức Chúa Trời để tỏ ra cho chúng ta thấy bằng chứng về loại phẩm chất mà những gã thiếu niên nầy có.
Đaniên quyết đứng cho Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời đã tôn cao ý định ấy bằng cách khiến cho ông được ơn với người làm đầu quan hoạn mà ông đang trực thuộc.
Trường hợp của Đaniên thì tương tự với trường hợp của Giôsép ở một số phương diện:
1. Trở thành phu tù từ chính dân sự mình.
2. Trong việc được ơn từ những kẻ bắt mình làm phu tù.
3. Trong việc giải điềm chiêm bao.
4. Trong việc được tôn cao bởi những người cầm quyền.
5. Trong đời sống nên thánh.
Chúng ta thấy rằng Đaniên không ngang ngạnh, song khéo léo trong việc xử trí qua cách ông vận dụng tình huống.
Chúng ta cần phải hiểu rằng việc giữ một tâm linh ngay thẳng là then chốt khi đối phó với những kẻ bị hư mất!
VII. KHÓ KHĂN (câu 10)
Kẻ làm đầu quan hoạn vốn nguyên tắc ở đây nếu ông ta để cho Đaniên và ba bạn của ông làm việc chi khác hơn những gì nhà vua đã ấn định.
VIII. THỎA THUẬN (các câu 11-14)
Sự việc phải được trình ra cho kẻ làm đầu quan hoạn một cách ngắn gọn một khi sự việc được phép tiếp diễn. Chỉ có Đức Chúa Trời mới làm như thế trong thời gian 10 ngày mà Đaniên đã đưa ra.
Thử nghiệm nầy là một thách thức cho niềm tin của Đaniên đang đặt nơi Đức Chúa Trời. Chúng ta biết Đaniên là một nhân vật chuyên cầu nguyện.
Sẽ có một yếu tố lạ lùng trong phần kết quả, vì 10 ngày không đủ để nói ra sự khác biệt vì cớ ăn những thứ thức ăn nhất định.
IX. MINH CHỨNG (các câu 15-17)
Không những Đức Chúa Trời chúc phước cho họ về mặt thuộc thể khi họ cố định với một thực đơn thích ứng, mà Ngài còn chúc phước cho họ về trí khôn và về thuộc linh để họ đứng vững theo luật lệ của Ngài.
Và chúng ta thấy rằng Đaniên đã được Đức Chúa Trời ban cho một ơn đặc biệt trong khả năng hiểu được mọi sự hiện thấy và chiêm bao. Ơn nầy về sau đã đặt ông trên những địa vị cao tột trong triều đình người Babylônian.
X. ĐỐI THOẠI (các câu 18-19a)
Ngày quan trọng đã đến gần:
XI. QUYẾT ĐỊNH (các câu 19b-20)
Trong phần xét nét của nhà vua về bốn người nầy, chúng ta thấy rằng ông ta nhận thấy chẳng có ai bằng họ cả.
Bốn người nầy đã được chọn để đứng chầu trước mặt nhà vua để bàn bạc mọi vấn đề với ông ta.
Không những họ tốt đẹp hơn những người khác đã bị bắt đi làm phu tù và được dinh dưỡng theo thực đơn của nhà vua, mà họ còn giỏi hơn gấp mười lần các thuật sĩ và đồng bóng mà nhà vua đã có trong xứ mình.

BÊNXÁTSA



NHÂN VẬT KINH THÁNH
BÊNXÁTSA, VUA XỨ BABYLÔN
Đaniên 5
Phần giới thiệu
Ở đây trong sách Đaniên chương 5, chúng ta gặp một vì vua xứ Babylôn với cái tên là Bênxátsa. Ông ta là cháu nội của Vua Nêbucátnếtsa. Tên của ông ta có nghĩa là. “Bel bảo hộ nhà vua”. “Bel” là một vị thần của người Canhđê, nhưng “Bel” không thể bảo hộ cho vua nầy.
Câu chuyện nói tới Vua Bênxátsa là một câu chuyện ngắn. Ông ta xuất hiện trên bối cảnh ở đây và rồi ông ta biến mất.
Mọi sự chúng ta biết về ông ta ra từ chương Kinh Thánh ngắn gọn nầy và một số tư liệu lịch sử.
Những gì chúng ta biết về Bênxátsa cho thấy ông ta đã tổ chức một bữa ăn trọng thể, Kinh Thánh cho biết cả ngàn đại thần của ông ta được mời đến dự (Đọc Đaniên 5.1-4).
Lịch sử cho chúng ta biết sự say sưa là rất phổ thông trong mọi đẳng cấp của người Babylôn.
Chúng ta thấy một Bênxátsa say sưa đang hướng dẫn các thực khách của mình chế giễu Đức Chúa Trời chí cao, là Thần Linh của dân Israel, khi họ uống rượu từ những cái bình bằng vàng và bạc mà Vua Nêbucátnếtsa đã lấy đi từ đền thờ khi ông ta vây hãm thành Jerusalem. Chúng ta thấy những kẻ dự đám tiệc nầy đã đi quá xa khi nâng cốc chúc mừng các tà thần của chính họ với những thứ một thời từng là những cái bình thánh của Đức Chúa Trời.
Chúng ta thấy Bênxátsa là một người đầy dẫy sự kiêu ngạo và rõ ràng chẳng kính vì Đức Chúa Trời cũng như chẳng coi loài người ra gì hết. Ở đây chúng ta thấy ông ta bày tỏ ra tình trạng hư không, sự phạm thượng, và thái độ kiêu ngạo của ông ta trong việc sử dụng những chiếc bình thánh của Đức Chúa Trời.
Kế đó, chúng ta thấy các bữa tiệc đã bị ngắt ngang bởi những ngón của bàn tay người đang viết ra mấy lời kín nhiệm trên bức tường của cung điện.
Mặc dù Bênxátsa không thể giải được câu nói viết trên tường, chúng ta thấy ông ta đã rúng động trông thấy. Bạn có nghĩ Bênxátsa có lẽ đã có một ý tưởng cho rằng sứ điệp nói ra số phận của ông ta không? (Đọc Đaniên 5.7-8).
Nhà vua đã hoảng sợ khi tìm cách giải câu nói đã viết ra. Chúng ta thấy ông ta đã triệu tập tất cả những kẻ khôn sáng mà ông ta có thể tìm được để ráng sức giải thích điềm chiêm bao. Không ai trong số họ có thể nói cho ông ta biết lời giải thích.
Có một bài học rất hay ở đây. Đừng vào trong thế gian để kiếm sự giải thích Lời của Đức Chúa Trời. Họ không biết Lời ấy nói gì đâu!
Chúng ta thấy nhà vua đã hoảng sợ kinh khiếp nơi sự bất khả của những kẻ khôn sáng không thể giải thích gì được cho ông ta. (Đọc Đaniên 5.9).
Kế đó, chúng ta thấy thái hậu vào gặp Bênxátsa rồi chỉ cho ông ta lời chỉ bảo của Đaniên. Đọc Đaniên 5.10-12.
Khi đó chúng ta thấy Đaniên được triệu đến để gặp Vua Bênxátsa (Đaniên 5.13-17).
Đaniên bắt đầu bằng cách nhắc cho Bênxátsa nhớ Đức Chúa Trời đã đối xử thể nào với ông nội của ông ta là Vua Nêbucátnếtsa. Đọc Đaniên 5.18-21.
Ở các câu 22-24, Đaniên nói cho Bênxátsa biết rằng ông ta biết hết mọi điều nầy, thế mà ông ta không đáp ứng cách thích đáng với sự hiểu biết đó. Ông ta phải hạ mình xuống và phục theo Đức Chúa Trời chí cao. Thay vì thế, như một kết quả của tánh kiêu ngạo của mình, ông ta đã phạm tội chế giễu Đức Chúa của các từng trời và giờ đây Đức Chúa Trời sẽ xử lý ông ta! (Đọc Đaniên 5.22-24).
Khi Đaniên đọc và giải thích câu nói ở trên tường, ông tỏ ra như một kết quả tánh kiêu căng của Bênxátsa, Đức Chúa Trời sẽ xét đoán ông ta bằng cách lấy đi nước của ông ta rồi chia nó thành Mê đi và Batư (Đọc Đaniên 5.25-31).
Sự sụp đổ của xứ Babylôn như đã được ghi lại bởi các sử gia xưa (Herodutus, Berosus và Xenophon) như sau: "Siru đào một giao thông hào rồi đổi dòng chảy của sông Ơphơrát thành con kênh mới dẫn tới một đầm lầy. Cấp độ của dòng sông khi đó thu nhỏ lại như thế khiến nó giống như một con suối. Quân đội của ông ta lúc bấy giờ mới có thể chiếm lấy thành bằng cách đi bộ ngang qua chỗ nước cạn ... Người Babylôn khi đó đang tổ chức một bữa đại tiệc cho thần linh của họ và bị chiếm lấy hoàn toàn trong sự kinh ngạc".
Thế là bạn đang có phần kết cuộc của một người có tên là Bênxátsa!
Giờ đây, tôi muốn chỉ ra những kẻ hay chỉ trích Kinh Thánh thích dùng câu chuyện nầy để tỏ ra những điểm sai lầm về mặt lịch sử trong phân đoạn Kinh Thánh, họ tìm cách gạt bỏ tính chính xác của Kinh Thánh.
Có ba điểm tranh cãi với những kẻ phê bình nầy:
1. Họ nói rằng vị vua sau cùng cai trị đế quốc Babylôn trước khi bị hủy diệt bởi người Mêđi Batư, là một người có tên là Nabonidus chớ không phải Bênxátsa.
2. Họ nói rằng Bênxátsa chưa bao giờ là vua của xứ Babylôn.
3. Họ cho rằng Kinh Thánh nói tới Nêbucátnếtsa là cha của Bênxátsa, kỳ thực không phải vậy.
Những câu nói mà những kẻ hay phê phán Kinh Thánh đưa ra chỉ có phân nửa sự thực:
1. Tên của Bênxátsa được tìm thấy trong lịch sử, và ông chính là con trai của Vua Nabonidus, lập ông làm thái tử trong vương quốc Babylôn.
Vấn đề nằm trong khảo cổ học, ấy là tên của Bênxátsa trong một thời gian dài không được tìm thấy ở đâu ngoài sách Đaniên. Điều nầy khiến cho nhiều người nói rằng toàn bộ câu chuyện chỉ được dựng lên để khích lệ người Do thái mà thôi. Họ tiếp tục xưng rằng sách Đaniên chẳng có nền tảng lịch sử gì cả. Nhưng rồi mọi việc đều thay đổi.
Vào năm 1854, một quan chấp chính người Anh đã khai quật những nơi đổ nát xưa ở miền Nam Iraq.
Ông cho đào sâu vào cái tháp được dựng lên ở đó rồi tìm gặp những trụ đất sét có khắc chữ của người Babylôn. Huân tước Henry Rawlinson, ông là một trong những người đã đã giải được bản văn theo tượng hình của người Babylôn, có thể đọc được toàn bản văn đó. Những trụ hình bằng đất sét nầy thực ra rất quan trọng.
Các bản khắc nầy đã được viết ra vào thời của Nabonidus, Vua xứ Babylôn từ 555-539TC. Những hình trụ nầy kỷ niệm những tu sửa mà nhà vua đã thực hiện cho cái tháp. Chúng gồm có một lời cầu nguyện cho tuổi thọ của Vua Nabonidus ... và con trai trưởng của ông ta. Tên của người con trai nầy rõ ràng được khắc lên đó, chính là Bênxátsa.
Bản khắc ghi như sau: “Nguyện rằng Ta, Nabonidus, Vua xứ Babylôn, không hề quên ngươi. Và nguyện con trưởng nam ta, Bênxátsa, sẽ hết lòng thờ lạy ngươi”.
Điều nầy chứng minh rằng đã có một nhân vật quan trọng thời bấy giờ có tên là Bênxátsa; đây không phải là một nhân vật tưởng tượng đâu. Tuy nhiên, sự việc nầy liên quan với Đaniên, ấy là Bênxátsa chỉ được đề cập tới là thái tử, chớ không phải là vua. Đaniên rõ ràng gọi Bênxátsa là vua.
Các bản ghi chép khác chỉ ra rằng Nabonidus là vua bản xứ sau cùng của Babylôn, và Bênxátsa hoàn toàn chưa hề lên ngôi. Một lần nữa, những kẻ phê phán kết luận rằng Đaniên đã phạm phải sai lầm về mặt lịch sử khi gọi Bênxátsa là vua (mặc dù suy nghĩ của họ chẳng có gì là xấu cả). Nhưng có đấy!
Hãy xem lại những gì Bênxátsa nói với Đaniên xem. Ở câu 16, ông ta nói rằng nếu Đaniên có thể giải được câu nói trên bức tường, khi ấy ông ta sẽ ban cho Đaniên quyền dự chức thứ ba trong vương quốc.
Tại sao phải là chức thứ ba? Điều nầy chỉ ra sự thực là bản thân Bênxátsa không phải là chức thứ nhứt trong vương quốc, mà ông đã nắm chức thứ hai.
Bênxátsa đã ban cho Đaniên chỉ những gì ông ấy có thể hiến cho: chức thứ ba. Bản văn Babylôn ủng hộ quan điểm nầy. Thực vậy, có mảng chứng cớ khác nói tới sự trị vì của Bênxátsa trong thành Babylôn, đây là bản văn mà ở đó ông ta được đề cập tới là con trai của Nabonidus và được ban cho quyền cai trị. Bản văn ấy chép: “Đặt trại quân dưới quyền con trưởng nam của ông ta . . . Giờ đây hai bàn tay người được tự do; Người phó hết quyền bính ngôi vua cho Bênxátsa”.
Tuy nhiên, còn có một bằng chứng khác nữa đến từ một bản văn lần ngược lại thế kỷ thứ sáu trong xứ Babylôn, ở đó ông ta được nhắc tới với cùng ánh sáng như cha của người:
“Về ngôi sao sáng đã hiện ra, ta đánh bạo giải thích ý nghĩa của nó cho sự vinh quang của chủ ta là Nabonidus, vua xứ Babylôn, và cũng cho thái tử là Bênxátsa”.
Cái điều thú vị đáng chú ý, ấy là căn cứ vào lời thề nầy, nhân vật đã thề bởi cả hai: Nabonidus và Bênxátsa. Trong khi chiếu theo những lời thề lần ngược trở lại thời điểm khác, thì chỉ có nhà vua được nhắc tới mà thôi. Điều nầy dường như chỉ ra rằng Bênxátsa đã có quyền đồng trị, là nhân vật số hai so với cha người trên khắp đế quốc.
Hãy xem lại Kinh Thánh hoàn toàn ở các câu 7, 16, và 29.
Nabonidus là người rất lập dị, và trong mấy năm khi trị vì, ông ta đã không sống trong xứ Babylôn, mà sống trong một ốc đảo xa xôi tận miền Bắc xứ Arabia gọi là Teima. Khi ông ta ra đi, ông ta đã giao quyền làm vua cho con trai mình là Bênxátsa.
Hãy in trí rằng sách Đaniên không phải là một tư liệu chính thức của xứ Babylôn, vì vậy đã ghi Bên xát sa là "vua", một khi ông ta đã hành xử là vua trong chỗ của cha mình.
Chúng ta cũng biết rằng trong thời Mêđi Batư chiếm lấy xứ Babylôn, Nabonidus đã không sống trong thành Babylôn, mà thực ra đang ở tại Teima. Ông ta đã để con trai mình lại nắm quyền hành trên xứ Babylôn.
Vua Siru xứ Batư cũng đề cập tới Bênxátsa khi ông ta chinh phục Babylôn trong các bản văn của mình. Ông ta nói về người như sau: "Một gã hèn nhát lại làm vua của xứ sở nầy … Với ý đồ gian ác hắn đã xây mặt với những của lễ hiến cho các thần … rồi mạo phạm sự thờ phượng của vua các thần mình là Marduk”
Chiếu chỉ của Siru cho rằng Bênxátsa đã mạo phạm sự thờ phượng thần Marduk của ông ta rất gần gũi với câu chuyện trong sách của Đaniên. Mặc dù không phải thần Marduk có bàn tay viết trên tường, mà là Đức Chúa Trời chơn thật duy nhứt của Israel.
2. Mặc dù Kinh Thánh nói rằng Nêbucátnếtsa là cha của ông ta, từ ngữ Hy bá lai nói tới cha cũng có ý nói tới ông nội hay tổ phụ.
Thực vậy, Bênxátsa là dòng dõi huyết thống của Nêbucátnếtsa. Ông là cháu nội.
3. Vì thế Kinh Thánh gọi Bênxátsa là vua.
Mặc dù các bản tường trình lịch sử có thể không nhắc tới ông là vua, từ ngữ Hy bá lai nói tới vua cũng được sử dụng nói tới các quan tổng đốc hoặc các thái tử. Và lịch sử ghi lại rằng ông có cả hai.
KẾT LUẬN
Trong phần kết luận, tôi muốn chia sẻ một vài tư tưởng:
Chúng ta sẽ tiếp thu các bài học từ lỗi lầm của tổ phụ chúng ta.
Có người cho rằng người nào bất chấp quá khứ phải lặp lại quá khứ đó.
Người khác nữa nói: “Việc tệ hại nhất về lịch sử, ấy là mỗi lần nó lặp lại, thì cái giá sẽ cao hơn”.
Chúng ta biết rõ phải có thời gian cho khoa khảo cổ và khoa học mới theo kịp được với Kinh Thánh.